Published On: Thu, May 25th, 2017

“Cách mạng 4.0” của công nhân Việt Nam

Theo PGS-TS Lê Hoài Quốc, Trưởng ban quản lý Khu Công nghệ cao TPHCM, cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cách mạng công nghệ 4.0) tạo ra nhiều cơ hội mới, nhưng đồng thời cũng đặt ra thách thức không nhỏ cho các mô hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũ.  

“Bọn cháu không có tiền về quê ăn Tết, chẳng biết làm sao nên rủ nhau đi cướp. Dạ đây là lần đầu ạ”.

Đó là lời khai báo với công an của bốn thanh niên trẻ bị bắt tại Bình Dương ngày 22/1/2011. Bốn thanh niên, người lớn nhất 25 tuổi, người nhỏ nhất mới 18, đều quê ở Nghệ An và Hà Tĩnh, vào các khu công nghiệp trên địa bàn Bình Dương làm công nhân. Họ phạm tội lần đầu, và hôm ấy, là ngày 27 tháng Chạp.

Giai đoạn đó, theo một nghiên cứu do Viện dân số và các vấn đề xã hội thực hiện, mỗi năm có khoảng nửa triệu thanh niên di cư đến các thành phố để kiếm sống. Trong đó, 52% ở độ tuổi từ 18 đến 25, tức là độ tuổi của 4 thanh niên bị bắt ở Bình Dương.

Theo nghiên cứu của viện này, đời sống của những thanh niên này tương đối bế tắc. 70% chỉ có một phương tiện giải trí là nghe đài và xem TV. 58% tin rằng họ sẽ không có cơ hội để nâng cao trình độ phát triển.

cach mang 4.0

Khảo sát về lương công nhân (2015, Tổng liên đoàn lao động)

Nhiều người trong số họ chọn những giải pháp tồi để giải quyết sự bế tắc. “Trên thực tế ở nhà quê họ là người thật thà nhưng cuộc sống đô thị đã xô đẩy họ. Nhiều khi việc làm khó kiếm, không có thu nhập nên làm liều rồi quen” – nghiên cứu trích lời một lãnh đạo công an quận.

Thời điểm đó, trước vụ ăn cướp của 4 công nhân, Đài tiếng nói Việt Nam đặt ra một vấn đề: sẽ ra sao nếu 4 người này không bị bắt?

Câu trả lời giả thiết được đưa ra, là “hành động đó có thể được lặp lại, và đó là con đường khá truyền thống để hình thành những băng nhóm tội phạm”. Cơ quan này, từ vụ việc có thể xem là nhỏ này (nếu chỉ xét đến mức độ tội phạm trên mặt bằng xã hội), khẳng định rằng “tình trạng bất ổn từ đời sống của lao động nhập cư đang là một vấn đề quan trọng của xã hội”.

Đó là chuyện của năm 2011. Cho tới cuối năm đó, cả nước có xấp xỉ 1.000 vụ đình công diễn ra, một kỷ lục từ khi Luật lao động có hiệu lực, cao gấp 2,5 lần so với năm trước đó. Lý do chính, được cho là bởi tiền lương. Một năm đầy biến động của giới công nhân Việt Nam.

Hai năm sau đó, nước Đức giới thiệu khái niệm “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (gọi tắt “Cách mạng 4.0”). Nó được thủ tướng Angela Merkel nhấn mạnh tại Diễn đàn Davos năm 2015, và nay trở thành một khái niệm thời thượng trên quy mô toàn cầu.

Cuộc cách mạng này được cho là một mối đe dọa với lực lượng lao động phổ thông – đặc biệt là những người đang làm việc trong các nhà máy gia công, một phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Đặc trưng của cuộc cách mạng 4.0 là nhiều công đoạn của quá trình sản xuất sẽ được thay thế bằng máy móc.

Và câu hỏi đặt ra: là trước và sau Cách mạng công nghiệp 4.0, lực lượng công nhân Việt Nam thay đổi ra sao?

Lao động giá rẻ sẽ dẫn đến tụt hậu
Lợi thế lao động phổ thông giá rẻ của Việt Nam có một giai đoạn đã thu hút được khá nhiều doanh nghiệp di chuyển nhà máy từ Trung Quốc sang để đối phó với tình hình giá lao động tăng cao tại Trung Quốc. Trong bối cảnh các tập đoàn đa quốc gia thực hiện chiến lược “Trung Quốc + 1” để vừa tận dụng lợi thế thị trường sản xuất của Trung Quốc, vừa bảo đảm khả năng phòng tránh các rủi ro từ thị trường tiêu thụ lớn này, Việt Nam đã có cơ hội để thu hút nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế.
Nhưng trong xu thế của cách mạng công nghệ 4.0, những yếu tố trên không còn là lợi thế của Việt Nam. “Cách mạng công nghệ 4.0 giúp đưa ngành công nghiệp chế tạo, sản xuất ở phân khúc giá trị cao quay trở lại các nước phát triển hoặc Trung Quốc để gần với thị trường tiêu thụ lớn, các trung tâm nghiên cứu triển khai và các trung tâm cung ứng nguyên vật liệu, phụ kiện”, ông Quốc cho biết.
Trong quá trình toàn cầu hóa, cách mạng công nghệ 4.0 sẽ có tác động đáng kể đến Việt Nam, tạo ra nhiều cơ hội và thách thức. Nói về thuận lợi: Kinh tế Việt Nam cũng sẽ có được các cơ hội tương tự với nền kinh tế toàn cầu khi bước vào cách mạng công nghệ 4.0 nhờ dân số trẻ, năng động với sự nhanh nhạy trong ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT). Nguồn lao động có trình độ chuyên môn CNTT đã phát triển mạnh mẽ, có tính đột phá trong những năm qua. Lợi thế về ngành CNTT khi được áp dụng mạnh mẽ trong các ngành khác là cơ hội cho lực lượng lao động Việt Nam tham gia vào những phân khúc tạo giá trị gia tăng cao…
Tuy nhiên, cách mạng công nghệ 4.0 sẽ tạo rất nhiều thách thức cho kinh tế Việt Nam, xuất phát từ hiện trạng cơ cấu của nền kinh tế đang còn bất ổn. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (hệ số ICOR) của các doanh nghiệp khu vực nhà nước kém so với khu vực tư nhân. Sự bất cân bằng trong chính sách đã dẫn tới hệ số ICOR của khu vực vốn đầu tư nước ngoài FDI có sự chênh lệnh lớn so với khu vực ngoài nhà nước, mà trong đó tồn tại nhiều vấn đề trong sử dụng vốn như hiện tượng gian lận chuyển giá của các doanh nghiệp FDI đã mang tính phổ biến…
Bốn ngành trụ cột bị tác động
Cách mạng công nghệ 4.0 sẽ tác động mạnh tới một số ngành kinh tế cột trụ của Việt Nam như: Nhóm ngành năng lượng; nhóm ngành dệt may, giày dép, thủ công mỹ nghệ; nhóm ngành công nghiệp chế tạo.
Ở nhóm ngành năng lượng: ngành dầu khí và ngành điện đang bị đặt trước bối cảnh giảm phát dài hạn, do xu hướng thay đổi công nghệ hướng tới hiệu quả, tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo giúp bảo vệ môi trường… Với nhóm ngành dệt may, giày dép, thủ công mỹ nghệ, đây là nhóm 3 ngành xuất khẩu sử dụng nhiều lao động phổ thông giá rẻ, có giá trị xuất khẩu tăng cao nhất của Việt Nam nhưng lại bị xếp vào nhóm ngành yếu kém, giá trị gia tăng thấp nhất khu vực châu Á. Nhóm ngành này đang bị mắc kẹt giữa hai chiến lược cạnh tranh trong bẫy thu nhập trung bình: Cạnh tranh đơn hàng bằng chi phí lao động giữa các thị trường giá rẻ và cạnh tranh chi phí sản xuất bằng lao động với sản xuất bằng máy móc ở các nước phát triển.
Đây là cơ hội mà Việt Nam phải nhanh chóng đón bắt để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sớm thực hiện mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Đó là cách nhìn nhận của lãnh đạo Bộ Công Thương về những biến động mà Cách mạng 4.0 có thể sẽ mang tới.

“Chính phủ cần một chương trình hỗ trợ riêng, tập trung vào việc nâng cao trình độ và tay nghề, kiến thức chuyên sâu của nhóm đối tượng này”, ông Trần Việt Hòa – Phó Vụ trưởng Khoa học và Công nghệ của Bộ Công Thương, đề xuất khi nói về lực lượng lao động giản đơn.

Cách mạng công nghệ 4.0 sẽ tác động mạnh nhất tới nhóm ngành công nghiệp chế tạo vì nó luôn bị ảnh hưởng bởi những biến đổi của công nghệ trong kinh tế toàn cầu, cơ chế lan truyền công nghệ qua hoạt động xuất nhập khẩu. Chính sự thay đội mạnh mẽ của công nghệ và máy móc làm cho thay đổi dòng chảy thương mại quốc tế, phân hóa lại nhu cầu lao động giá rẻ được sử dụng để sản xuất phục vụ cho các thị trường lớn. Còn với nhóm ngành điện tử, xét về năng lực sản xuất sẽ dễ dàng nhận thấy nhóm ngành này hoàn toàn bị tác động bởi các tập đoàn đa quốc gia đặt cơ sở sản xuất linh kiện điện tử và lắp ráp thành phẩm tại Việt Nam. Năng lực sản xuất của những doanh nghiệp nội địa trong nhóm ngành này càng ngày càng thu hẹp hoặc phải đóng cửa bởi các sản phẩm công nghệ cao đòi hỏi sự đổi mới liên tục – điều mà doanh nghiệp trong nước thường bị hụt hơi trong cuộc đua về sự sáng tạo công nghệ, chất lượng và giá cả khi tham gia chuỗi cung ứng so với thị trường thế giới.

Có thể bắt gặp ý kiến của nhiều chuyên gia về “đào tạo lại” cho công nhân như một giải pháp đối mặt Cách mạng 4.0.

Tìm ra cơ hội “nâng cao trình độ tay nghề” cho lực lượng công nhân đang tính toán từng gói mì và từng trăm nghìn đồng tất nhiên không phải vấn đề dễ dàng.

Khảo sát mới nhất về tiền lương vào tháng 3/2017, cho thấy 33% lao động cho biết thu nhập của họ thấp, phải chi tiêu tằn tiện, sống kham khổ; 12% thu nhập và tiền lương không đủ sống, phải làm thêm. Chỉ 16% có thu nhập dôi dư nằm trong nhóm công nhân mỏ, khai khoáng.

Dây chuyền các cô gái vui tươi của Thảo trong quán lẩu vịt của năm 2016, đã “thay máu” theo những con đường riêng. Họ về quê lấy chồng, tiếp tục tham gia vào lực lượng nông nghiệp hoặc buôn bán nhỏ. Họ đi xuất khẩu lao động.

Một khảo sát khác của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam với công nhân ngành dệt may, giày da vào năm 2015, năm mà bà Angela Merkel đem khái niệm “Cách mạng 4.0” tới Diễn đàn Davos, cho kết quả: 20% lao động không đủ sống, 31% phải chi tiêu tằn tiện, 41% vừa đủ trang trải và chỉ 8% có tích lũy.

Một công nhân Bắc Thăng Long tự cắm ống truyền trong ký túc xá của nhà máy

Hàng triệu công nhân cả nước, cùng với tích lũy trình độ, trí tuệ và sức lao động của họ, không chỉ được điều chỉnh bởi “giáo dục”. Họ là kết quả của một loạt hệ thống chính sách liên quan đến tiền lương, giờ làm, y tế, nhân khẩu…

Trong lúc đó, ở Đức, chính phủ nước này sẽ đổ ra khoảng 40 tỷ euro mỗi năm cho Cách mạng 4.0, tới 2020. Mục tiêu của các quốc gia giàu có này: Tự động hóa sản xuất, để cạnh tranh với chính lực lượng lao động giá rẻ từ những công xưởng thế giới như Việt Nam. Quyên, Thảo, Lâm, Hồng – trong tương lai sẽ cạnh tranh trực tiếp với một lực lượng rô-bốt trị giá hàng nghìn tỷ USD.

Và biến động lớn nhất họ thường xuyên phải lo nghĩ, vẫn là Tết, chứ không phải “Cách mạng 4.0”. Quyên kể rằng, có những năm, sau Tết, toàn bộ tiền trong nhà cô chỉ còn đủ để mua đúng một tấm vé xe về Hà Nội.

Guồng quay của cô gái tuổi 20 bên dây chuyền nhà máy lại tiếp tục. Sự đầu tư cho những người như cô, đang dừng lại ở dạng bản thảo.

About the Author